lịch sử việt nam
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
Bài-Học Trần-Hưng-Đạo
( Bút Hiệu : Thượng Chi )
" Nếu Bệ-hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần đi đã "
Gần 700 năm qua, mà lời tâu khẳng-khái ấy vẫn còn văng-vẳng trong mọi tâm-hồn dân Việt .
Lời tâu khẳng-khái ấy là lời quyết-định cho việc đại thắng quân Nguyên của quân dân Việt-Nam dưới quyền thống-lĩnh của Đức Trần-Hưng-Đạo .
Với sức mạnh của Hội-Nghị Diên-Hồng, với sức mạnh của tinh-thần " phụ tử chi binh " cộng với sức mạnh của toàn dân cùng hy-sinh cho một chí-hướng, lịch-sử Việt-Nam dưới thời nhà Trần đã được ghi chép bằng những giòng vàng son chói lọi.
Chính sức mạnh của khối Đại Đoàn-Kết ấy đã tạo nên những chiến-thắng vang-lừng cho nòi-giống : Chương-Dương ; Hàm-Tử ; Tây-Kết ; Vạn- Kiếp ; Vân-Đồn ; Bạch-Đằng .
Và người đã tạo ra sức mạnh ấy chính là : Thái-sư ; Thượng-phụ ; Thượng-quốc-công, Bình Bắc Đại Nguyên-Soái, Hưng-Đạo Đại-Vương Trần-Quốc-Tuấn.
Nhắc tới Đức Trần-Hưng-Đạo là nhắc tới vị Tướng-lãnh tài-ba, văn võ kiêm toàn, là nhắc tới vị Công-thần trung-kiên, tiết-liệt và cũng nhắc tới Một Người với tất ý-nghĩa đẹp lành và cao cả .
Với Ngài, lời dặn báo-thù của cha tuy chí-thiết, nhưng quyền-lợi Tổ-quốc còn trọng đại hơn .
Với Ngài, nỗi hiềm-khích cùng Tướng Trần-Quang-Khải đã tiêu-tan trong nghĩa cả, để cùng nhau cứu dân, cứu nước.
Ngoài ra, đối với thuộc-hạ, hơn ai hết, Ngài là người biết tiến-cử, dung nạp, tin cậy tài đức, biết nghe sáng-kiến và lời nói thẳng. Ngoài Đức Trần-Hưng-Đạo, hởi có ai đã nhìn qua gã đan mây ngang-tàng ngoài lộ, người bán than lem-luốc, để thấy những bậc hổ-tướng mà lịch-sử gọi là Phạm-Ngũ-Lão, Trần-Khánh-Dư ?
Đối với nhân-dân, Ngài đã áp-dụng chính-sách : quân phân quyền lợi và bổn-phận để làm sống dậy sức mạnh tiềm-tàng của mọi người, làm sôi-sục bầu máu nóng ái-quốc của những trang thanh-niên mà thường ngày chỉ biết yên vui cùng đồng ruộng.
Với bài " Hịch Tướng Sĩ ", Ngài đã khiến ba-quân thuộc-hạ, nghìn người như một, vạn người như một, đồng lòng hy-sinh và hăng say giết giặc. Và " Binh thư yếu lược " của Ngài vẫn còn giữ mãi được giá-trị cổ-truyền của nó.
Vì thế Đức Trần-Hưng-Đạo đã trở thành Vị Tướng tài ba và nhà Chính-trị lỗi-lạc của lịch-sử Việt-Nam bất diệt .
Chính Ngài đã dùng chính-trị để thâu gồm tất cả mọi người vào trong một lập-trường : Lập-trường Dân-Tộc ; và trong một sức mạnh : sức mạnh Đoàn-Kết Đấu-tranh.
Ngài đã thắng, toàn dân Việt-Nam đã thắng .
Và những bài học lịch-sử mà Đức Trần-Hưng-Đạo để lại muôn đời được hậu-thế noi theo.
VỚI CUỘC CHIẾN-THẮNG MÔNG - CỔ CỦA ĐỨC THÁNH TRẦN
( LTS. _ Sau đây là Tài-liệu Thuyết-trình của GS. Nguyễn-Đăng-Thục, trình-bày trong dịp kỷ-niệm Đức Trần-Hưng-Đạo, tại Bộ Tư-Lệnh Hải-Quân, ngày 10-10-1968.
Chúng tôi hoan-hỷ được đăng lại hầu độc-giả tài-liệu quý giá này ( gồm 2 phần ) của một
vị Giáo-sư đã dày công nghiên-cứu Văn-học, đặc-biệt về các danh-nhân Việt-Nam )
Đông-Nam-Á gồm bán-đảo Đông-Dương và Nam-Dương quần-đảo. Đây là chỗ giao-lưu của các chủng-tộc và văn-hóa giữa hai khối Ấn-Độ và Trung-Hoa. Với di-tích văn-hóa Đông-Sơn và Lạch-Trường mà đặc-trưng là Trống Đồng và Mổ Cổ, chúng ta biết rằng từ trước kỷ-nguyên Tây-lịch, ảnh-hưởng Ấn-Độ vào tận trung-châu Bắc-Việt để rồi lùi dần ra biển và xuống miền Nam trước sự lan-tràn của ảnh-hưởng lục-đại Trung-Hoa. Vào thế-kỷ XII - XIII, trên bờ biển bán-đảo Đông-Dương có nước Chiêm-Thành thuộc ảnh-hưởng văn-hóa Ấn-Độ, luôn luôn thường xung-đột với nước Đại-Việt, phía Bắc thuộc ảnh-hưởng Trung-Hoa. Đại-Việt sau khi tự giải-phóng khỏi sự đô-hộ của phương Bắc, đánh đuổi Đại-Lịch phía Tây, đánh dẹp quân Mán ở các khe động, đến thời Lê, Lý bắt đầu đánh xuống miền Nam, tức là Chiêm-thành vậy. Lý-Thánh-Tông có chí lập nên một Đế-quốc, có mệnh Thiên-tử như Đế-quốc Tầu, đổi quốc-hiệu làm Đại-việt ( 1054 ) coi các nước phương Nam Giao-Chỉ như chư-hầu của mình. Không muốn họ vào triều-cống Tầu. Cho nên đến Vua Lý-Thánh-Tông ( 1057 - 1071 ), Lý-Nhân-Tông ( 1072 - 1127 ) đánh phá Chiêm-Thành đến tận biên-giới Chân-Lạp. Nước Chiêm bỏ kinh-đô Indrapura ( phía Bắc Huế ) để đi xuống Vijaya ( Phật-Thệ, Bình-Định ). Dân Chiêm phải quật-cường về phía Tây, đánh cướp Angkor của Cam-Bốt ( 1177 ).
Đế-quốc Cam-Bốt thế-kỷ XII đang là một thế-lực rộng lớn, dưới triều Vua Phật Jayavarman VII ngự-trị từ Viên-Chan phía Bắc đến bán-đảo Mã-Lai phía Nam, bờ biển Đông-Dương phía Đông đến biên-giới Miến-Điện phía Tây.
Nước Miến-Điện vào thế-kỷ XII cũng được thịnh với triều-đại Pagan dựng lên từ 1044. Năm 1190 Miến-Điện tiếp-thụ ảnh-hưởng Phật-giáo cải-cách của Tích-Lan (Ceylan) thuộc về Tiểu-thừa, còn Cam-Bốt vẫn chịu ảnh-hưởng Ấn-Độ-giáo và Phật-giáo Đại-thừa.
Ở ngoài Hải-đảo thế-kỷ XII có Đế-quốc Tam-Phật-Tề (Mahàràja) ở Sumatra, chi-phối mặt biển trên đường giao-thông giữa Ần-Độ và Trung-Hoa qua các eo-biển.
Xa nữa là đảo Java (Qua-Oa) với Đế-quốc Kediri, từng cầm-cự với thủy-quân Mông-Cổ để trở nên triều-đại thế-lực bá-chủ Nam-Dương, thế-kỷ XIV là triều-đại Majapahit.
Đấy là tình-trạng các dân-tộc miền Đông-Nam-Á, trong ấy truyền-thống văn-hóa Ấn-Độ với truyền-thống văn-hóa Trung-Hoa đang giao-tranh ảnh-hưởng và thế-lực, trước cuộc xâm-lăng và bành-trướng của đại-thế-lực Đế-quốc Mông-Cổ, sau khi đã khống-chế khắp lục-địa Á-Châu, Âu-Châu, sắp tràn xuống các bán-đảo và hải-đảo Đông-Nam-Á.
Truyền-thống văn-hóa Ấn-Độ đề-cao tâm-linh cá-nhân tự-do cho nên có màu sắc siêu-nhiên Thần-bí, còn truyền-thống văn-hóa Trung-Hoa có khuynh-hướng nhân-văn xã-hội, có tinh-thần luân-lý thực-tiễn. Hai khuynh-hướng ý-thức-hệ vĩ-đại ấy quyết-định vận-mệnh các dân-tộc Đông-Nam-Á bằng cách đồng-hóa với nhau hay tiêu-diệt nhau một mất một còn, đấy là ý-nghĩa lịch-sử anh-dũng chiến-thắng quân Mông-Cổ của thời nhà Trần ở Việt-Nam, và làm thay đổi chiều-hướng tiến-hóa của Đông-Nam-Á sau này vậy.
Nhà học-giả Nhật Okakura trong tác-phẩm trứ-danh thế-giới " Les Idéaux de l'Orient " ( Những Ý-niệm Đông-Phương ) mở đầu rằng :
" Á-Châu là nhất-phiến : núi Hy-Mã chỉ phân ra để đánh-dấu hai nền văn-hóa vĩ-đại : Văn-hóa Công-Cộng Trung-Hoa của Khổng-Phu-Tử và Văn-hóa Tư-do Cá-nhân của Ấn-Độ Vệ-Đà, nhưng những bức-thành tuyết-sơn ấy không một lúc nào làm gián-đoạn sự phát-triển lòng khao-khát Tuyệt-đối và Đại-đồng, vốn là gia-bảo tinh-thần chung của dân-tộc Á-Châu đã khiến chúng sáng-tạo ra các tôn-giáo lớn của thế-giới, và do đấy đã phân-biệt chúng với các dân-tộc trên hải-đảo Địa-Trung-Hải và Ban-Tích, ưa-chuộng giới-hạn vào mặt đặc-thù và cầu tìm những phương-tiện cho sự sống hơn là cứu-cánh của sự sống ".
Cái miếng đất bắc cầu giữa hai nền văn-hóa vĩ-đại trên đây chính là khu-vực giao-lưu Đông-Nam-Á mà bán-đảo Ấn-Độ - Chi-Na ( Indo-Chine ) như tên gọi đã là " ngã tư dân-tộc và văn-hóa " ( carrefour de peoples et de civilisations, _ Ovlov Jansé. E.F.E.O. ) kể từ lâu, trước kỷ-nguyên Dương-lịch như di-tích khảo-cổ-học chứng-minh vậy.
Kể từ thời Lý, lịch-sử Đại-Việt đã ghi-nhận sự tiến-cống của các nước Chiêm-Thành, Chân-Lạp, Ngưu-Hồng, Ai-Lao, Tiêm-La, Qua-Oa nước Kim, tuy cũng có khi Chiêm-Thành, Chân-Lạp, Ai-Lao vào đánh biên-giới phía Nam, khiến cho các Vua Đại-Việt thường phải đi chinh-phục. Đấy là một bằng-chứng cụ-thể biểu-lộ cái tinh-thần tranh-hùng giữa Việt-Nam với các dân-tộc trên bán-đảo Đông-Dương, còn ghi ở bài Bia khắc vào núi của Trần-Minh-Tông sai Nguyễn-Trung-Ngạn làm vào năm 1335.
" Hoàng Việt triều Trần, Vua trị-vì thứ VI là Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế, được Trời yêu cho thống-trị đất đai rộng lớn, các nơi xa gần đâu cũng phải thần-phục. Thế mà Ai-Lao, một nước nhỏ-mọn dám ngang-ngạnh giáo-hóa triều-đình. Năm Ất-Hợi, tháng quí thu ( tháng 9 Âm-lịch ) Hoàng-Đế thân đem 6 vạn quân đi tuần-thú đến biên-thùy mặt Tây, Thế-tử Chiêm-Thành và nước Chân-Lạp, nước Tiêm-La, đạo tù-trưởng Mán, Quì, Cầm, Xa, Lặc, những bộ-lạc mới phụ-thuộc thì tù-đạo Mán Bôi Bồn và Thanh Xa đều tranh nhau đến triều-yết, dâng nộp phẩm-vật địa-phương. Chỉ một mình nghịch-tặc Bổng cố giữ thói u-mê, sợ bị tội không đến triều-yết. Tháng quí đông ( tháng 12 Âm-lịch ) Hoàng-Đế đóng ngự-doanh ở cánh đồng Cự Đồn thuộc Mật Châu, hạ lệnh cho các tướng cùng binh-lính Man Di kéo vào nước ấy, tên nghịch Bổng nghe tiếng chạy trốn. Bèn hạ chiếu đem quân về .
" Ngày tháng 12 nhuận, mùa đông năm Ất-Hợi, niên-hiệu khai-hựu thứ VII ".
Nay bài Bia đục núi khắc lúc bấy giờ ở thôn Trầm-Hương, huyện Trương-Dương, tỉnh Nghệ-An, nét chữ to bằng bàn tay, tạc vào đá sâu hơn một tấc.
Bài Bia trên đây thực là cả một tờ di-chúc của Đại-Việt thời Lý, Trần cho dân-tộc Việt-Nam sau này, sau khi đã bại Tống, bại Nguyên, nhất-định xưng Đế phương Nam, làm một nước Thiên-Tử bảo-vệ tự-do cho cả Đông-Nam-Á.
Thực vậy, trong khi quân Mông-Cổ bị chặn đánh ở Việt-Nam ( 1257 - 1284 - 1287 ) thì Đế-quốc Đại-Lịch của Thái-tộc ở Vân-Nam bị sát-nhập vào Mông-Cổ 1253, quân Mông-Cổ đánh xuống Miến-Điện ; (1277 - 1283 - 1284), kinh-đô Pagan (Bồ Cam) bị làm cỏ 1287 và Đế-quốc Miến bị giải-tán.
Mặt khác, Mông-Cổ định dầy xéo qua Việt-Nam để chinh-phục suốt bờ biển Đông-Dương mà thẳng tới Java chinh-phục tất cả Đông-Nam-Á. Theo René Grousset viết trong " Lịch-sử Á-Đông " :
" Đông-Dương bấy giờ chia làm bốn nước Việt-Nam, Chiêm-Thành, Cao-Mên và Miến-Điện. Năm 1280 Chiêm-Thành bị sứ-thần của Hốt-Tất-Liệt (Kubilai) thừa-nhận quyền bảo-hộ của Mông-Cổ. Các Ủy-viên triều Nguyên đến nhậm-chức, nhưng có sự nổi loạn của nhân-dân đánh đuổi vào năm 1281 - 1282. Tướng Mông-Cổ Toa-Đô (Sõgãtu) đem hạm-đội nhỏ từ Quảng-Đông đổ-bộ lên Chiêm-Thành, chiếm kinh-đô Chiêm là Chà-Bàn gần Bình-Định năm 1283, nhưng rồi không giữ được với sự chống-cự của nhân-dân, và bệnh dịch làm hao mòn quân-sĩ nên phải rút lui.
" Sự thất-bại ấy một phần nhờ sự từ-chối của dân Việt không cho quân Mông-Cổ mượn đường bộ đi qua. Một lần nữa, năm 1285 Hốt-Tất-Liệt lại phái một đội-quân do Thoát-Hoan chỉ-huy đi đường bộ từ Vân-Nam đổ xuống Bắc-Việt, Thoát-Hoan ( Togon ) chiếm đóng Hà-Nội, còn Toa-Đô đổ-bộ lên bờ biển Chiêm-Thành với một hạm-đội, đánh ngược từ Nghệ-An và Thanh-Hóa vào sau lưng quân Việt-Nam ở mặt Nam. Nhưng mùa hè nóng-nực buộc Thoát-Hoan phải về Vân-Nam. Toa-Đô cô-lập, bị đánh bất ngờ ở Tây-Kết và bị giết với tất cả quân-sĩ. Năm 1287 Hốt-Tất-Liệt lại sai Thoát-Hoan đánh xuống Bắc-Việt với một đội quân hùng mạnh hơn nữa. Thoát-Hoan lại chiếm đóng Hà-Nội, nhưng cũng bị quân Việt đánh bại phải chạy vội về Tầu.
" Ở Miến-Điện, quân Mông-Cổ năm 1287 chiếm Bhamo thẳng đường xuống lưu-vực Irrawaddy. Năm 1287, chúng xuôi theo giòng sông ấy xuống kinh-đô Pagan ( Bồ Cam ) cướp phá. Năm 1297 Vua Pagan xin làm chư-hầu Hốt-Tất-Liệt. Năm 1300 Mông-Cổ lại vào Miến-Điện, đặt Vua chư-hầu Thái Shan thay triều-đại Pagan. Đế-quốc Mông-Cổ bành-trướng đến Cao-Miên. Năm 1294 hai nước Xiêm và Thái : Xiêng Mai và Sukhotai đều nhận làm chư-hầu Mông-Cổ.
" Năm ( 1292 - 1293 ) Hốt-Tất-Liệt phái một đạo thủy quân từ Quảng-Đông thẳng xuống Java ( Qua-Oa ) Vua Java bấy giờ là Kediri bị quân Mông-Cổ đánh bại ở Majapahit, nhờ có nội ứng đồng-minh là Chúa Java khác Vijaya và chiếm lấy được kinh-đô Kediri. Nhưng rồi Vijaya quay lại chống quân Mông-Cổ cô-lập và đánh đuổi chúng ra khơi ".
_ ( René Grousset : " Histoire de l'Extrême-Orient ". Paris 1929, _ p. 453 - 55 ed. Paul Genthner )
Từ đây trên bán-đảo Đông-Dương (Ấn-Độ - Chi-Na ) chỉ còn hai thế-lực dân-tộc với hai tinh-thần văn-hóa khác nhau đang thi-đua trên đường Nam-Tiến, ấy là Việt-Tộc theo dọc phía Đông dãy núi Trường-Sơn, và Thái-Tộc bên phía Tây Trường-Sơn, cả hai dân-tộc sau thế-kỷ XIII đều đi xuống phương Nam, Thái-Tộc lập ra Miến-Điện, Thái-Lan và Lào, Việt-Tộc thay vào đất Chiêm-Thành, Chân-Lạp đến vịnh Xiêm-La. Một đằng chịu ảnh-hưởng nặng của truyền-thống Trung-Hoa, một đằng chịu ảnh-hưởng sâu về văn-hóa Ấn-Độ.
" Vào thế-kỷ XIV, văn-hóa tiếng Phạn ( Sanscrit ) thấy suy-sụp, Bia khắc Phạn-ngữ cuối cùng vào năm 1253 ở Chiêm-Thành, năm 1330 ở Cao-Miên, năm 1378 ở Sumatra. Trong lưu-vực sông Mékong và Ménam, di-tích Ấn-Độ-giáo và Phật-giáo Đại-thừa còn lại vào thế-kỷ XIII - XIV, nhượng chỗ cho Phật-giáo Tích-Lan cải-cách do người Môn Miến-Điện đem vào từ thế-kỷ XII và được người Thái về sau truyền-bá. Ở hải-đảo Sumatra, Hồi-giáo bắt đầu xuất-hiện từ năm 1281, mà Marco-Polo đã chứng-kiến sự hiện-diện của nó. Ở Java ( Qua-Oa ) chỉ từ thế-kỷ XV người Hồi-giáo mới đủ mạnh để dồn Ấn-độ-giáo tránh lên cao-nguyên trước khi đi xuống đảo Bali lần chót ".
_ ( G. Coedes. " Une Période Critique Dans L'Asie du Sud-Est ). Bul. Etudes Indochinoises _ t. XXXIII, n°.4 -- Saigon 1958 )
Đây là hai đại-lược cục-diện Đông-Nam-Á về văn-hóa và chính-trị trước cuộc Nam-tiến của dân-tộc Việt-Nam vào thế-kỷ XV ( 1471 ) đến thế-kỷ XVIII ( 1756 ) sau khi chiến-thắng quân Mông-Cổ, đánh đuổi quân Minh về phương Bắc.
Việc chiến-thắng quân Mông-Cổ của nhân-dân Việt-Nam thời Trần trên đất Bắc-Việt đã có ảnh-hưởng quyết-định chiều-hướng cuộc-diện tiến-hóa chính-trị và văn-hóa của Đông-Nam-Á, như sử-gia Pháp về Á-Đông là René Grousset đã sớm công-nhận. Nhưng theo sử Việt thì việc chặn đứng trọng lực quân Mông-Cổ ngay tại cửa ngõ đi xuống Đông-Nam-Á không phải là một việc dễ dàng. Đấy là cả một kỳ-tích huyền-diệu của cả một dân-tộc vào một thời-đại, nhất là của vai-trò lãnh-đạo với thiên-tài có một không hai như Đức Trần-Hưng-Đạo Vương vậy.
Weblinks :
Thông Báo: Trang nhà Trúc Lâm Yên Tử nhận đăng quảng cáo cho các cơ sở thương mại. Rất mong đón nhận sự ủng hộ của quý độc giả ở khắp mọi nơi. Đa tạ. Xin vui lòng liên lạc qua email truclamyentu@truclamyentu.info để biết thêm chi tiết. We add your banner or small texted-based on our website, please contact us at truclamyentu@truclamyentu.info. Thanks