lịch sử việt nam

Trang Chính

Biển Cả Và Con Người:

Bưu-Hoa Việt-Nam:

Blog Anh Ba Sàm:

Blog Cầu-Nhật-Tân:

Blog Cu-Làng-Cát:

Blog Dân Làm Báo:

Blog Dân Oan Bùi-Hằng:

Blog Giang-Nam Lãng-Tử:

Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh:

Blog Lê-Hiền-Đức:

Blog Lê-Nguyên-Hồng:

Blog Lê-Quốc-Quân:

Blog Mai-Xuân-Dũng:

Blog Người Buôn Gió:

Blog Phạm-Hoàng-Tùng:

Blog Phạm-Viết-Đào:

Chết Bởi Trung Cộng:

Diễn-Đàn Thảo-Luận Về Tình-Hình Việt-Nam:

Địa-Linh Nhân-Kiệt Của Việt-Nam:

Điện-Toán - Tin-Học:

Ebooks Hồi-Ký - Bút-Ký:

Hịch Tướng Sĩ:

Hình-Ảnh Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa

History Of Viet Nam

Hoàng-Sa Trường-Sa Là Của Việt- Nam:

Hồ-Sơ Chủ-Quyền Quốc-Gia Việt- Nam 

Hội Sử-Học Việt-Nam tại Âu-Châu

Human Rights Vietnam - Human Rights Activist

Lá Thư Úc-Châu

Lịch-Sử Việt-Nam Cận-Đại:  

Lịch-Sử Việt-Nam Ngàn Xưa:

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Nghĩa-Trang Quân-Đội Biên-Hòa

Nguyên-Tử Của Việt-Nam Và Quốc- Tế

Người Dân Khiếu-Kiện:

Phụ-Nữ, Gia-Đình, Và Cuộc Sống:

Quốc-Tế:

Sitemap:

Tiền-Tệ Việt-Nam:

Tin Nhắn, Tìm Thân-Nhân Mất-Tích, Mộ Tìm Thân-Nhân:

Tin-Tức Thời-Sự Việt-Nam:

Thư-Tín:

Tư-Tưởng Phật-Giáo:

Tưởng-Niệm 50 Năm Anh-Hùng Ngô-Đình-Diệm, Anh-Hùng Ngô-Đình-Nhu Vị-Quốc Vong-Thân 1963-2013:

Tưởng-Niệm 50 Năm Hòa-Thượng Thích-Quảng-Đức Tự-Thiêu 1963-2013:

Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu:

Trang Thơ Văn Minh-Vân:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh:

Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc:

Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân:

Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái:

Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước:

Trang Thơ Văn Quê-Hương:

Trang Thơ Văn Thanh-Sơn:

Trang Thơ Văn ThụcQuyên:

Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm:

Truyện Dài Thời Chiến-Tranh Việt-Nam (Ebooks):

Ủng Hộ Trúc-Lâm Yên-Tử - Donate:

Văn-Hóa Tộc Việt:

Weblinks:

 

 

Lịch-Sử Việt-Nam Cận-Đại

Trách Vụ Của Tôi Đối Với Phật-Giáo
(Từ giữa thập kỷ 1940 tới hết thập kỷ 1960)

Hòa Thượng Thích Tâm Châu 

Sau ngày Nhật đầu hàng đồng-minh, đảng Việt-Nam Độc-Lập Đồng-Minh, gọi tắt là Việt-Minh, trá hình của đảng Cộng-Sản Đông-Dương, do ông Hồ-Chí-Minh lãnh đạo, cướp chính quyền ngày 19-8-1945 và tuyên ngôn độc-lập ngày 2-9-1945, thành nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa. 

Nhận thấy sự gian manh, tàn ác của Việt-Minh, lợi dụng danh nghĩa dân tộc, liên hiệp, giết hại các đảng phái quốc-gia, đem Pháp trở lại Bắc Việt, tạo dựng chính nghĩa kháng chiến, tiêu thổ, triệt hạ các tài nguyên quốc-gia, dùng mọi sảo-kế, âm thầm tiêu diệt các tôn-giáo, các nhà trí-thức, các nhà tư-sản, cùng những người có uy-tín, nên tôi đã không ưa chủ-trương của Việt-Minh Cộng-Sản từ năm 1946.

-      Từ cuối năm 1946 trở đi, một mặt tôi cố gắng tuyên giảng giáo lý của đức Phật và nói rõ chủ-trương của Việt-Minh Cộng-Sản cho nhiều người cùng hiểu. Mặt khác, tôi đi vận động, liên kết những người có tinh thần quốc-gia, liên kết các tôn-giáo cùng chung một đường lối, ngăn ngừa sự xâm nhập của Việt-Minh Cộng-Sản. 

-      Từ năm 1949 đến năm 1952, tôi phải đảm trách chức-vụ Chủ Tịch Phật-Giáo Liên Tỉnh: Nam-Ninh-Thanh-Thái (Nam-Định, Ninh-Đình, Thanh-Hóa và Thái-Bình). 

-      Năm 1951, tôi là đại biểu của Giáo-Hội Tăng Già Bắc Việt cùng Thượng-Tọa Tố-Liên vào Huế thành-lập Tổng-Hội Phật-Giáo Việt-Nam. 

-      Năm 1952, tôi đảm trách chức-vụ Phó-Chủ-Tịch (Trị-Sự-Phó) Giáo-Hội Tăng Già toàn quốc Việt-Nam, do Hòa-Thượng Thích-Tuệ-Tạng làm Thượng-Thủ, Thượng-Tọa Thích-Trí-Hải làm Chủ-Tịch và Thượng-Tọa Thích-Tố-Liên làm Tổng-Thư-Ký. 

-       Năm 1954, di cư vào Nam, tôi thành lập Giáo-Hội Tăng-Già Bắc-Việt tại Miền Nam và đảm-trách chức-vụ Chủ-Tịch niên khóa đầu của Giáo-Hội ấy. 

-     Năm 1956, tôi đảm trách chức vụ Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội Chủ, cho tới khi thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964.  

-      Năm 1963, tôi đảm trách chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo chống phim Sakya và Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. 

-      Từ năm 1964 đến năm 1967,  tôi đảm trách hai nhiệm kỳ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Việt Nam Quốc Tự. 

-       Năm 1966, tôi tham dự Đại-Hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới tại Colombo thủ đô Tích Lan và đảm trách chức vụ Phó Chủ Tịch Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới từ năm 1966 đến năm 1989. 

-      Năm 1969, tôi tổ chức Đại Hội kỳ 2 của Giáo Hội Tăng Già Thế Giới tại Sài Gòn và vẫn giữ chức Phó Chủ Tịch, thành lập Hội Phật Giáo Phụng Sự Xã Hội Thế Giới và đảm trách chức vụ Chủ Tịch. (Sau đó, tôi còn đảm trách nhiều chức vụ khác về Phật Giáo trong và ngoài nước).  

CUỘC TRANH ĐẤU NĂM 1963 

Chiến tranh Việt Pháp được kết thúc bởi Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia nước Việt Nam thành hai miền : từ vĩ tuyến 17 tức là từ cầu Hiền Lương, sông Bến Hải trở ra thuộc miền Bắc Cộng Sản, gọi là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Từ Bến Hải đến Cà Mau thuộc miền Nam Quốc Gia, gọi là Việt Nam Quốc Gia.  Miền Bắc do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Miền Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo, nhưng sau này ủy nhiệm cho ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng. Được một thời gian, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại vào ngày 23 tháng 10 năm 1955 và thành lập Việt Nam Cộng Hòa. Trước đây, Quốc Trưởng Bảo Đại theo nhu cầu chính trị của người Pháp để lại, ký đạo dụ số 10, công nhận Thiên Chúa Giáo là một đạo, còn tất cả các Tôn giáo khác chỉ là Hiệp Hội, như các hội buôn, hội tương tế v.v... Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người Thiên Chúa Giáo. Dưới tay chân của Tổng Thống, trong các ngành : dân,  quân, cán, chính đa phần là người gốc Thiên Chúa Giáo hay mới theo Thiên Chúa Giáo. Được cơ hội có quyền thế trong tay những người thừa hành tạo ra các tổ chức như : Đảng Cần Lao Nhân Vị, Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, Hội Phụ Nữ Liên Đới, cùng những Trung Tâm Huấn Luyện, những ấp Chiến Lược, đã tạo nhiều thuận duyên cho những người chuyên lợi dụng tình thế dụ dỗ hay áp bức các Phật tử bỏ Phật theo Chúa.

-        Đầu năm 1963, chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho phép cuốn phim SAKYA của Nhật chiếu tại Việt Nam. Cuốn phim này, nội dung chứa đầy những sự sai lầm dâm loạn, đã bị các nước Phật giáo Á Châu phản đối kịch liệt. Với tư cách là Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, tôi triệu tập các đại biểu của các Giáo phái, Hội Đoàn Phật Giáo thành lập Ủy Ban Liên Phái Chống Phim SAKYA và tôi được cử đảm trách chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban. Sau khi tích cực hoạt động, vận động, can thiệp với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong một thời gian cuốn phim SAKYA không được phép chiếu tại Việt Nam Cộng Hòa. 

-        Trước lễ Phật Đản ít ngày, chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ra một Thông Tư cấm các tôn giáo treo cờ ngoài Phật đường, Thánh đường. Do đó, cuộc tranh đấu cho việc treo cờ và bình đẳng tôn giáo được bột khỏi ngay ngày kỷ niệm Phật Đản, nhằm ngày 8-5-1963 tại chùa Từ Đàm Huế.

-        Thông lệ, mỗi kỳ Phật Đản tại Huế, cuộn băng ghi lại buổi lễ Phật Đản được cho phát thanh lại trên đài phát thanh Huế vào 8 giờ tối. Năm nay, lễ Phật Đản, có đoạn ghi lại lời tranh đấu chống Chính Phủ, nên đài phát thanh Huế không dám phát. Quần chúng Phật tử quanh vùng Huế chờ đợi phát thanh về Phật Đản không được, lũ lượt kéo nhau tới đài phát thanh, mỗi lúc mỗi đông, chính quyền địa phương lo sợ về sự biểu tình, Thiếu Tá Đặng Sĩ Phó Tỉnh Trưởng Nội An Thừa Thiên kiêm Tiểu Khu Trưởng ra lệnh giải tán. Đột nhiên có tiếng nổ, làm cho 8 em Phật tử chết và một số bị thương. Do đó trở thành cuộc tranh đấu lớn lao. 

-        Tại Sài Gòn ngày 9-5-1963 tôi được tin tai nạn xảy ra tại Huế. Với tư cách Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, tôi liền ra một Tâm Thư, thông bạch cho đồng bào Phật tử biết và kêu gọi xếp chặt hàng ngũ trong cuộc tranh đấu "Tử vì đạo" có thể xẩy ra. Sau đó, tôi triệu tập các Giáo phái Phật giáo tại Sài Gòn để thành lập Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, gồm có : Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy (chùa Kỳ Viên), Giáo Hội Thiền Tịnh Đạo Tràng (chùa Phật Bửu), Giáo Hội Tăng Già Kampuchia, Hội Phật Học Nam Việt, Hội Phật Giáo Bắc Việt tại miền Nam, Hội Phật Giáo Nguyên Thủy, Hội Phật Giáo Kampuchia và sau thêm Giáo Hội Tăng Già Trung Phần và Hội Phật Giáo Trung Phần thành 11 Giáo Phái, Hội Đoàn. Tôi cố cung thỉnh Quý Thượng Tọa : Thiện Hòa, Thiện Hoa, Nhật Minh đảm trách ngôi vị Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, nhưng Quý Ngài nào cũng từ chối, không dám đảm trách chức vụ ấy. Rốt cuộc, Liên Phái lại bắt buộc tôi phải đảm trách chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo.

-      Nhận nhiệm vụ rồi, tôi tưởng rằng được đặt văn phòng tại chùa Ấn Quang, nhưng không ngờ các vị tại Ấn Quang e ngại chính quyền, không dám cho đặt văn phòng Ủy Ban tại đây. Tôi rớt nước mắt, phải đi van xin cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền cho đặt văn phòng tại chùa Xá Lợi, mời Cụ giữ cho chức vự Tổng Thư Ký Ủy Ban và vay Cụ 35$ (đồng) để sắm chút ít văn phòng.

-      Đặt văn phòng rồi, tôi thảo hoạch chương trình rước linh các Thánh Tử Đạo, luân phiên cầu nguyện tại các chùa, tiếp kiến Tổng Thống Ngô Đình Diệm, họp báo, biểu tình tại trụ sở xin tự thiêu cho cuộc đòi hỏi của Phật Giáo sớm thành công, trong đó có Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Ủy Ban đều không chấp nhận. 

-       Không hiểu vì lý do tình cảm với ông Ngô Đình Cẩn hay nhận xét vì sự tranh đấu đầy cam go nguy hiểm, ngày 15-5-1963, Thượng Tọa Trí Quang, Hội Trưởng Hội Phật Giáo Trung Phần viết thư gửi cho ông Ngô Đình Cẩn (nhờ ông Tỉnh Trưởng Thừa Thiên kiêm thị Trưởng thành phố Huế là Nguyễn Văn Đẳng chuyển giao) không tranh đấu nữa. Một số các vị lãnh đạo tại Huế không chịu, cứ tiếp tục cuộc tranh đấu. (2) 

-      Tình hình tại Huế hết sức khẩn trương, các chùa bị bao vây, không điện, không nước suốt 7 ngày, Hòa Thượng Quảng Đức thương cảm, quyết định tự thiêu để cứu Huế, vào ngày 11-6-1963, tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt. 

-      Sự tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức làm rung động khắp thế giới, chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới giải tỏa các chùa tại Huế, Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh, mới đáp máy bay vào Sài Gòn ngày 12-6-1963. 

-      Chính phủ thiết lập Ủy Ban Liên Bộ họp cùng với Ủy Ban Liên Phái để tìm phương giải quyết. 

-      Hai bên họp suốt từ ngày 14-6-1963 đến 1 giờ 30 sáng thường cho nạn nhân tại đài phát thanh Huế và quy định việc treo cờ. 

-      Ủy Ban Liên Phái nhẫn nại chờ đợi sự thực thi Thông Cáo Chung của Chính Phủ. Trong vòng một tháng, các nơi vẫn bị bắt bớ, các chùa vẫn bị theo dõi, bất đắc dĩ phải phát động cuộc tranh đấu lần thứ hai, đòi chính quyền thực thi nghiệm chỉnh đầu đoàn biểu tình của Tăng Ni trước tư thất ông Nolthing, Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam, ngày 16-7-1963. 

-      Từ đó, cuộc tranh đấu gặp khó khăn thêm, chính quyền quyết tâm tiêu diệt Phật Giáo, không nhượng bộ, cho tới 12 giờ đêm tiêu diệt Phật Giáo, không nhượng bộ, cho tới 12 giờ đêm ngày 20-8-1963 chính quyền cho biết quân luật, khám xét các chùa, bắt hết Tăng, Ni. Tại chùa Xá Lợi, trụ sở của Ủy Ban Thích Tịnh Khiết cũng bị bắt. Tôi cũng bị bắt, và họ đem nhốt tôi vào một cái cầu siêu nào đó. Thượng Tọa Trí Quang may mắn trốn được vào Tòa Đại Sứ Mỹ. 

-       Cuộc tranh đấu của Phật Giáo Việt Nam đến đêm ngày 20-8-1963 này, được coi là hết hoạt động và, dành phần hoạt động cho quần chúng : sinh viên. học sinh, quân đội và nhân dân. Nhưng chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm có lập ra một Ủy Ban, gọi là Ủy Ban Liên Hiệp Phật Giáo Thuần Túy, hòng che lấp dư luận. 

-       Trong thời gian này, các nước Phật Giáo trên thế giới như Tích Lan chẳng hạn, đem vấn để tranh đấu của Phật Giáo Việt Nam ra trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc quyết định cử một phái đoàn điều tra sang Việt Nam. Phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc sang Việt Nam ít ngày thì quân đội lật đổ xong chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào sáng ngày 2-11-1963. 

-       Cuộc chính biến do quân đội chủ xướng vào 1 giờ chiều ngày 1-11-1963 và đến sáng ngày 2 11-1963 thì chấm dứt, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết chết trên xe từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi cũng như chư Tăng khác cũng được thả ra và đưa về chùa Xá Lợi. 

-       Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, bầu tướng Dương Văn Minh làm Chủ Tịch, ông Nguyễn Ngọc Thơ (nguyên Phó Tổng Thống) làm Thủ Tướng Chính Phủ mới. 

THÀNH LẬP GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT 

-         Sau ngày rời khỏi nơi tù đày của chính quyền trở về, tôi cảm thấy mệt  mỏi, chán nản, và chỉ muốn đi một nơi yên ổn, tĩnh tâm tu niệm. 

-         Bỗng nhiên vào buổi chiều của một hôm, Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh mời tôi lên tư thất Cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền. Tại đây, Quý Thượng Tọa yêu cầu tôi làm Trưởng Ban Tổ Chức, triệu tập Đại Hội 11 Giáo Phái, Hội Đoàn trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo hội họp để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thượng Tọa Trí Quang trình bày sơ về tổ chức Giáo Hội Thống Nhất. Tôi trả lời Quý Thượng Tọa rằng : "Quý Thượng Tọa  cho tôi biết về việc tổ chức Đại Hội, tôi vui lòng ký giấy triệu tập Đại Hội. Nhưng tôi không dám nhận ngôi vị lãnh đạo đầu tiên của Giáo Hội mới, vì tôi nhận thấy rằng, tuổi tôi còn ít, tài đức thiếu, nhất là hoàn cảnh di cư từ Bắc vào Nam thiếu thốn đủ mặt, hậu thuẫn của Tăng, tín đồ không có, làm sao đảm nhận ngôi vị quan trọng ấy được. Chức vị đó xin các vị miền Trung, miền Nam nhận lãnh". Tôi nhất mực từ chối và chỉ nhận việc tổ chức Đại Hội mà thôi. 

-         Trở về chùa Xá Lợi, triệu tập 11 Giáo Phái, Hội Đoàn về họp tại chùa Xá Lợi từ ngày 30-12-1963 đến ngày 4-1-1964. Bản Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của Thượng Tọa Trí Quang soạn thảo được chấp nhận, bản Hiến Chương của Thượng Tọa Đức Nhuận bị loại. Cụ Mai Thọ Truyền làm Chủ Tịch Ban Thảo Hiến. 

-        Sau khi Đại Hội chấp nhận Bản Hiến Chương Giáo Hội mới. Đại Hội suy tôn Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết lên ngôi vị Tăng Thống với nhiệm kỳ 4 năm thuộc Giáo Phái Bắc Tông. Và, 4 năm kế tiếp, ngôi vị Tăng Thống thuộc về Giáo Phái Nam Tông. Bầu cử Viện Hóa Đạo 12 người, trong đó Đại Hội bầu tôi đảm trách chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất với nhiệm kỳ 2 năm. 

-         Trước sau tôi nhất mực từ chối chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, mà chỉ mong về tĩnh tu, dịch kinh. Nhưng, cho đến ngày 13-11-1964, Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết tha thiết khuyên tôi đảm nhận chức vụ ấy, mãi mãi tôi mới vâng lời. 

-         Tôi là một vị Tăng miền Bắc cùng sống trong Viện Hóa Đạo gồm có 12 vị. Tôi không khác một con ếch bỏ trong giỏ cua. Tôi tận lực làm việc không mong một chút danh lợi nào, nhưng tôi bị chèn ép đủ mọi mặt, đến  nỗi nhiệm kỳ 2 năm, mà tôi phải xin nghỉ 7 lần, cuối cùng Hòa Thượng Tăng Thống khuyên tôi, tôi phải vâng lời. Ngoài sự bị chèn ép, còn một nỗi khó khăn bởi Hiến Chương do Thượng Tọa Trí Quang chủ trương áp đặt. Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chủ trương xóa bỏ các Giáo Phái, Hội Đoàn, mà chỉ cần giám hộ các chùa, thu nạp Tăng Ni, Phật tử vào trong khuôn khổ Giáo Hội của mình và đặt dưới sự điều hành của Viện Hóa Đạo gồm 12 nhân vật mà thôi. Do đó, khi tôi đảm nhận trọng trách thực hiện Hiến Chương thì Thượng Tọa Giới Nghiêm, Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam viết thư cho tôi, mạt sát thậm tệ và quyết định không gia nhập. Các vị Thủ Lãnh của các Giáo Phái, Hội Đoàn khác không chịu xóa bỏ, trực diện chỉ trích hai chữ "Thống  Nhất" và cho là "Nhất Thống". Các vị rút ra khỏi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. 

-        Thời gian cầm quyền 3 tháng của Tướng Dương Văn Minh chưa giúp được gì về việc ra sắc luật công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Nhất. 

-        Trong nhiệm kỳ 1964, 1965 gặp thời kỳ chỉnh lý của Tướng Nguyễn Khánh, lật đổ Tướng Dương Văn Minh. 

-        Tướng Nguyễn Khánh cầm quyền, đã ban hành sắc luật công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một đạo giáo; cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một đạo giáo, cho Giáo Hội thuê tượng trưng gần 5 mẫu đất đường Trần Quốc Toản làm trụ sở chính thức của Giáo Hội, và cúng 10 triệu đồng để làm chùa. Ngôi chùa của Giáo Hội Thống Nhất cất trên khu đất ấy và đặt tên là "Việt Nam Quốc Tự". 

-        Trong khi đang tiến hành các việc, bỗng nhiên, Tướng Nguyễn Khánh cho tín đồ Thiên Chúa Giáo vùng Sài Gòn, Biên Hòa biểu tình vào Sài Gòn, suýt xẩy ra cuộc tàn sát đẫm máu. Trước tình trạng xáo trộn đen tối này, tôi yêu cầu Tướng Nguyễn Khánh cho mượn một tòa nhà tại đường Hai Bà Trưng để thiết lập Hội Đồng Tôn Giáo, với mục đích can thiệp và giải quyết các việc đụng xáo trộn, Thượng Tọa Trí Quang kéo Thầy Quảng Độ (biết tiếng Anh), Sư Bửu Phương (biết tiếng Miên) chạy xuống Tân Châu và đang định chạy sang Kampuchia, thì Sài Gòn lại yên ổn, các vị lại trở về.  (3)

-        Sau đó, một thời gian, vì vụ Hiến Chương Vũng Tàu, Tướng Nguyễn Khánh bị các Tướng lãnh lật đổ và trao quyền lãnh đạo Chính Phủ cho Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Nguyễn Cao Kỳ.  Trong thời gian Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Nguyễn Cao Kỳ cầm quyền. Viện Hóa Đạo đã lập Viện Cao Đẳng Phật Học, đang kiến thiết Viện Đại Học Vạn Hạnh, đang thiết lập các ban đại diện Giáo Hội tại các quận Đô Thành và các Tỉnh, Quận trong nước. Và, tôi mượn 50 triệu bạc của Chính Phủ Nguyễn Cao Kỳ, giao cho các Thượng Tọa : Thiện Hòa, Thiện Hoa, Trí Thủ, Từ Nhơn để xây Việt Nam Quốc Tự. Các Thượng Tọa giữ tiền rồi nhưng không xây Việt Nam Quốc Tự. (Hồi ấy, dự trù xây Việt Nam Quốc Tự hết độ 6,70 triệu mà thôi). 

ĐẠI NẠN CỦA PHẬT GIÁO VÀ ĐẤT NƯỚC

Sang năm 1966, Đại Hội Giáo Hội lại bắt buộc tôi phải làm Viện Trưởng thêm một nhiệm kỳ nữa. Giáo Hội e ngại các tướng lãnh tranh giành ảnh hưởng nhau, không thể có cơ sở vững vàng để xây dựng đất nước được, Giáo Hội yêu cầu Hội Đồng Lập Hiến. Sự yêu cầu này được phát động khắp các cấp Giáo Hội. Nhưng chỉ trong vài tháng việc yêu cầu bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được Chính Quyền các Tướng lãnh chấp nhận vào ngày 14-4-1966.

Sau khi phong trào bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được thỏa mãn, nhân danh Viện Trưởng, tôi đã gửi thư thông cáo tới các nơi biết : ngưng sự tranh đấu, và chỉ đặt các chương trình xây dựng đạo pháp mà thôi.  Ngày 2 tháng 5 năm 1966 tôi đáp máy bay sang Colombo, thủ đô nước Tích Lan, cùng đại biểu Tăng Già các nước soạn thảo Hiến Chương và thành lập Giáo Hội Tăng Già Thế Giới bắt đầu từ ngày 6-5-1966. Và tôi đảm trách chức vụ Phó Chủ Tịch. 

Từ Tích Lan trở về, tôi ghé thăm Malaysia và Singapore để cảm ơn sự hỗ trợ tinh thần trong cuộc tranh đấu 1963 vừa qua. 

Vào 11 giờ sáng ngày 29-5-1966, tôi về tới Sài Gòn, được tin đang có biểu tình trong thành phố Sài Gòn và một số nơi khác tại miền Trung. Tôi không hiểu, khi tôi đi vắng, ở nhà có Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh, do đâu lại phát động lại phong trào tranh đấu ?

Tôi về tới Việt Nam Quốc Tự, bước chân vào cửa văn phòng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi : "MUỐN QUẦN CHÚNG TUÂN THEO KỶ LUẬT THÌ PHẢI THEO QUẦN CHÚNG". Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư : YÊU CẦU CÁC THƯỢNG TỌA TRONG VIỆN HÓA ĐẠO, KHÔNG ĐƯỢC THEO THƯỢNG TỌA TÂM CHÂU".  Tôi định lên chánh điện Việt Nam Quốc Tự lễ Phật, tại đây có mấy các vị Tăng thanh niên không cho tôi vào chánh điện Việt Nam Quốc Tự và hăm dọa, ai muốn vào chùa hãy bước qua xác chết của họ. 

Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và huyết thư "CẤM TÔI KHÔNG ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG NỮA". Và, người trong chùa cho biết là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và, chính các vị Tăng thanh niên đang tụ tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức (Bàn Cờ) định sang chùa Từ Quang giết tôi. May có Sư Cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát. (4) 

Từ đó, tôi phải đi nghỉ, nay tại nhà này, mai tại nhà khác, nay tại Viện Nhu Đạo Quang Trung, mai tại Nha Tuyên Úy Phật Giáo. 

Từ đó, Việt Nam Quốc Tự bị Tăng Ni và quần chúng theo Cộng Sản nắm giữ, thao túng, liên tục ngày này qua ngày khác, ra đường Trần Quốc Toản, ngã 6 Sài Gòn - Chợ Lớn biểu tình, đả đảo và đốt hình nộm Tổng Thống Mỹ, Tướng Thiệu, Tướng Kỳ. Tôi không dám tới và làm việc tại Việt Nam Quốc Tự nữa.

Tại Huế, Đà Nẵng và vài nơi khác tại miền Trung cũng vậy, không sao vãn hồi được trật tự. Lại thêm, sự xích mích giữa Tướng Nguyễn Chánh Thi và các Tướng tại Sài Gòn. Nhóm Lập Trường ở Huế ra đời,  đòi hỏi bầu Quốc Hội, đòi hỏi ngưng chiến tranh.

Kết cuộc, các Tướng Sài Gòn mang quân ra vãn hồi trật tự miền Trung. Thượng Tọa Trí Quang cùng nhóm tranh đấu tại Huế, kêu gọi Phật tử đem bàn thờ Phật ra đường, để ngăn cản bước tiến của Quân Đội Chính Phủ, cho các cán bộ Cộng Sản nằm vùng, trà trộn tẩu thoát.  Phong trào mang bàn thờ Phật ra đường lan tràn khắp nơi và vào cả đến Sài Gòn. Tại Sài Gòn họ đem ảnh Phật ra để trên đống rác.

Nhìn cảnh tượng ấy tôi cảm thấy đau lòng, liền ra một thông bạch yêu cầu Phật tử không nên đem Phật ra đường. Thượng Tọa Thiện Hoa Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đột nhiên ra một thông cáo tán thành việc đem Phật ra đường. (5)

Tại Đà Nẵng cũng như một số nơi khác, ngoài việc đem Phật ra đường, còn ghìm súng, nấp sau tượng Phật bắn ra, khi quân đội tiến vào kiểm soát chùa.

Đem Phật ra đường rồi, Thượng Tọa Trí Quang vào Tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên tuyệt thực. Sau, chính phủ đưa Thượng Tọa Trí Quang vào Sài Gòn, ở nhà bác sĩ Nguyễn Duy Tài. Thượng Tọa vẫn duy trì việc tuyệt thực (có uống nước thuốc dưỡng sức), cho đến khi chính phủ quân nhân y lời hứa hồi tháng 4-1966, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 3-9-1966. 

Sau khi thanh toán sự hỗn loạn tại Huế và một số tỉnh khác tại miền Trung, thì tại Đô thành Sài Gòn, chính phủ cũng thanh toán xong nhóm náo loạn tại Việt Nam Quốc Tự. Tòa Đô Chính Sài Gòn chính thức viết thư xin lỗi Giáo Hội : "Vì nạn bất đắc dĩ phải thanh toán nhóm náo loạn tại Việt Nam Quốc Tự, chứ thực tâm, chính phủ không dám xâm phạm vào tôn giáo".

Tôi trở về làm việc tại Việt Nam Quốc Tự, nhưng một số các vị tranh đấu nhất định không về. Các vị cho rằng, chính phủ xúc phạm đến tôn giáo và cho tôi là thân Chính Quyền. Tại miền Trung, Thượng Tọa Trí Quang cho tuyên truyền rằng : "Mỹ mua đứt Tâm Châu với 3 triệu Mỹ kim và cho tôi là cậu của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đem quân đội ra tàn sát Phật tử miền Trung v.v...".

Đó là chỗ nẩy sinh ra sự mâu thuẫn giữa tôi và các vị tranh đấu. Từ chỗ mâu thuẫn ấy, tại Sài Gòn, Thượng Tọa Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khống cho tôi là người Mỹ cho tôi 1 triệu Mỹ kim và trả lương cho tôi mỗI tháng là 20 ngàn Mỹ kim. Thực ra, tôi chưa được một dollar của Mỹ, chứ nói chi đến vạn, đến triệu. (6) 

Tôi vẫn nhẫn nại làm việc, tuân theo lời dạy của Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết triệu tập Đại Hội Giáo Hội tại Việt Nam Quốc Tự từ chiều 21-10-1966.   Buổi chiều ngày 22-10-1966, Đại Hội mới duyệt xét chương trình nghị sự xong. 

Bất ngờ, 3 giờ sáng ngày 23-10-1966, tại chùa Ấn Quang một số các Thượng Tọa đã lén lút thành lập Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Hoa làm Viện Trưởng, coi như lật đổ tôi. Từ đó có ra Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Ấn Quang. 

Vậy, đâu là chỗ chia đôi và lũng đoạn Giáo Hội Thống Nhất ?

Sau đó, Viện Hóa Đạo Ấn Quang chuyển hướng theo đường hướng "Hòa Bình Khuynh Tả". Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử các vị ra nước ngoài liên lạc với các nhóm phản chiến, yêu cầu Mỹ rút quân, phản đối chính sách chống Cộng của Việt Nam Cộng Hòa, đòi hòa bình. Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử Thượng Tọa Nhất Hạnh làm Trưởng Phái Đoàn Hòa Bình bên cạnh Hòa Đàm Paris. 

Ấn Quang là một Phật Học Đường danh tiếng, cung ứng cho nhu cầu phát triển Phật Giáo miền Nam rất nhiều. Nhưng từ nửa năm 1966 trở đi, Ấn Quang đã bị cưỡng ép làm nơi tranh đấu của các vị ưa tranh đấu. Sang năm 1967, tôi triệu tập 8 Giáo Phái, Hội Đoàn tại Việt Nam Quốc Tự, tuyên bố rút lui chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Đại Hội đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Tường (người Nam), lên thay thế tôi làm Viện Trưởng. Và, Đại Hội này nhận thấy Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã bị chủ trương "NHẤT THỐNG",  tiêu diệt các Giáo Phái, Hội Đoàn, nên Đại Hội đã tu chính bản Hiến Chương ấy, cho phù hợp với các Giáo Phái, HộI Đoàn. Bản Hiến Chương tu chính này được thông báo cho chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu biết. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc luật 23/67 ngày 18/7.1967, công nhận Hiến Chương ấy. 

Sau khi rút lui khỏi Viện Hóa Đạo, tôi trở ra chùa Từ Quang Vũng Tàu của tôi, vui cùng cảnh vật thiên nhiên, cho vơi bớt những sự ưu tư, vất vả.  Tại Sài Gòn, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang lại phát động phong trào tranh đấu, đòi hỏi không được tu chính Hiến Chương. (Thực vô lý, Ấn Quang chỉ có 3 Giáo Phái, Hội Đoan, mặc dù Tăng Ni Phật tử đông. Việt Nam Quốc Tự có 8 Giáo Phái, Hội Đoàn - dù rằng người ít - vẫn có quyền tu chính Hiến Chương, chứ không phải hủy bỏ Hiến Chương).

Đùng một cái, một hôm vào khoảng 7 giờ tối, một số Tăng tại chùa Ấn Quang, được sự hỗ trợ của các dân biểu thân Ấn Quang có súng, như Kiều Mộng Thu v.v... đột nhập vào Việt Nam Quốc Tự bắt Thượng Tọa Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Tường, cùng với rất đông chư Tăng, đem về nhốt tại chùa Ấn Quang. Ngày hôm sau, Nha Tuyên Úy Phật Giáo can thiệp, mời các vị Ấn Quang ra khỏi Việt Nam Quốc Tự. Sau đó, Giáo Hội Thống Nhất tại Việt Nam Quốc Tự lại phải đề cử Thượng Tọa Thích Minh Thành (người Nam) lên làm Viện Trưởng.

Vẫn chưa yên. Lại một hôm khác, vào chập tối, phe Ấn Quang lại đem người, đem khí giới, tái chiếm Việt Nam Quốc Tự một lần nữa. Lần này họ bắt hết Tăng chúng, lấy hết đồ đạc, nhiều máy may của Việt Nam Quốc Tự và đốt cháy một dãy nhà phía tay trái Quốc Tự. Nha Tuyên Úy Phật Giáo lại phải can thiệp để vãn hồi trật tự.

Sau biến cố này, Giáo Hội Thống Nhất tại Việt Nam Quốc Tự phải đề cử Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo, kiêm nhiệm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, mới yên. 

Hai lần Ấn Quang đánh phá Việt Nam Quốc Tự như trên, hỏi ai làm nhơ nhớp cho lịch sử Phật Giáo Việt Nam ? 

Sự việc rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, mà nhóm tranh đấu của Ấn Quang, được sự hỗ trợ ngầm của Cộng Sản nhằm vùng, lải nhải vu khống cho Việt Nam Quốc Tự chia rẽ Giáo Hội, Thích Tâm Châu phá hoại và lũng đoạn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thực như câu phương ngôn của Việt Nam thường nói : "Vừa đánh trống vừa ăn cướp, vừa ăn cướp vừa la làng". Cậy đông, lấy thịt đè người, mặc sức vu khống, thao túng không coi nhân quả là chi cả !

Cho đến nỗi những vị Tăng không biết chút gì về việc tranh đấu, việc xây dựng Giáo Hội, cũng như các vị Tăng, Ni Phật - từ ở xa, hay sau này, cũng a dua, hùa theo sự tuyên truyền nhồi sọ của nhóm tranh đấu Ấn Quang và Cộng Sản nằm vùng trong suốt hơn 30 năm nay. Thực tội nghiệp !

Nói thẳng thắn, cuộc chiến tranh Quốc Cộng tại Việt Nam, không có một tôn giáo, một đoàn thể nào, không bị Cộng Sản nằm vùng gây chia rẽ, phá hoại. Thiên Chúa Giáo có những cán bộ gộc nằm vùng như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng v.v... Phật Giáo cũng vậy, Cộng Sản nằm vùng từ thượng tầng, tới hạ tầng, càng dễ dàng hơn.

Thực sự, cuộc tranh đấu từ tháng 6-1966, cho đến nay chia đôi Giáo Hội, đều do bàn tay Cộng Sản đạo diễn, làm hại cho Phật Giáo và quốc gia Việt Nam không nhỏ. Vì vậy, Phật Giáo không phải là không có trách nhiệm, liên đới đến sự để mất Việt Nam Cộng Hòa cho Cộng Sản. Vấn đề này, chính Hòa Thượng Thích Huyền Quang cũng thường nhắc đi nhắc lại: Cộng Sản từng tuyên bố : "Phật Giáo Ấn Quang hai lần có công với Cách Mạng". 

VẤN ĐỀ HÒA HỢP HÒA GIẢI VÀ CÁC TẠP SỰ SAU ĐÓ 

Đầu thập kỷ 1970. hòa đàm Paris đang tiến đến hồi mặc cả có lợi nhiều cho Cộng Sản, thì tại Việt Nam phe tranh đấu Ấn Quang, do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, đã cho thành lập phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, do ông Vũ Văn Mẫu được coi là Thủ Lãnh. Phong trào này không được sự tán thành của hai Thượng Tọa Thiện Minh và Huyền Quang. Vì hai Thượng Tọa này không tán thành phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, nên Thượng Tọa Trí Quang và phe nhóm của Thượng Tọa đã tung ra một chiến dịch bôi bẩn Thượng Tọa Thiện Minh và Thượng Tọa Huyền Quang một cách tàn nhẫn. Cũng vì chiến dịch này, trong suốt  một năm, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang không thể triệu tập được Đại Hội để bầu cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo vì Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã viên tịch, khiến cho Thượng Tọa Thích Trí Thủ là một vị Tổng Vụ Trưởng phải đứng lên xử lý thường vụ.

Tình hình biến chuyển hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 30-4-1975, là ngày cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Những bộ mặt thân Cộng Sản đã lộ rõ nguyên hình, không ai mà không rõ.

-       Khi quân Cộng Sản từ rừng về Sài Gòn, đã có lần 500  Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chào. 

-       Ngày 19-5-1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang. 

-       Hiệp Thương Chính Trị thống nhất hai miền Nam-Bắc của Cộng Sản, một Thượng Tọa của phe  Ấn Quang đã làm một bài tham luận, nịnh Cộng Sản, kể công của Ấn Quang và đả kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu. 

-       Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gọi là "Giáo Hội Quốc Doanh", hay "Giáo Hội Nhà Nước". Chỉ có các Thượng Tọa : Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận, Quảng Độ và một số nhỏ các vị khác không tán thành, nên bị bắt hay bị giết. 

-        Vào khoảng năm 1986, 1887, Ông Gorbachev, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô chủ trương cởi mở, thì tại Việt Nam ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng theo chủ trương ấy. Sau đó, Chủ Nghĩa Cộng Sản bị tan rã tại Nga, tại Đông Âu, thì tại Việt Nam, hình thức chuyển hướng là sự cần thiết để sống còn của họ. Họ đã cho các chùa được sinh hoạt tín ngưỡng một phần nào, trả một số cơ sở cho các chùa, cho một số thanh niên Tăng, Ni được học hỏi Phật Pháp. Và, có thể bước đầu thí nghiệm của họ, họ cho một số người nào đó, đòi hỏi quyền tự do dân chủ, để tiện dịp nhận diện những người quyết tâm tranh đấu, để có thể triệt hạ sau này.

Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đã khơi mở ra phong trào Phật Giáo Thống Nhất tại Hải Ngoại, và Hòa Thượng Thích Huyền Quang tiếp nối sự nghiệp.

Tại Hoa Kỳ cũng tổ chức thống nhất rầm rộ. Kết cuộc có ra hai, ba Giáo Hội Thống Nhất. Tại Âu Châu, có nhiều Giáo Phái hoạt động riêng biệt. Nhưng có  một số chùa, có các vị Tăng trung niên và thanh niên, kết hợp thành Giáo Hội Thống Nhất Âu Châu. Tại Úc, dân số Việt Nam tỵ nạn vào khoảng 150 ngàn người, Giáo Hội Thống Nhất Úc và Tân Tây Lan đã thành hình, với số Tăng, Ni ít ỏi, số chùa độ trên mươi ngôi, và trong những ngày đại lễ, số chùa độ trên mươi ngôi, và trong những ngày đại lễ, số Phật tử tới các chùa, tính chung lại vào khoảng 7, 8 ngàn người. Nội bộ Giáo Hội thì không ổn định và có vẻ phức tạp. 

Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Việt Nam, đang là người trỗi lên, đòi lại danh xưng và sự phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa Thượng là người đầy cảm lược, đầy kinh nghiệm với chủ nghĩa Cộng Sản. Tôi rất kính mến Hòa Thượng. Tôi đã viết thư khích lệ Hòa Thượng. Tôi luôn luôn cầu nguyện cho việc làm của Hòa Thượng được thành công viên mãn.

Cuộc tranh đấu hiện nay tại Việt Nam do Hòa Thượng Huyền Quang lãnh đạo thực vô cùng khó khăn. Khó khăn bởi bao mưu cơ, sảo thuật của Ấn Quang cũ, nằm trong Giáo Hội Nhà Nước, ngăn trở. Khó khăn bởi Hiến chương Cộng Sản bao vây. Khó khăn ngay trong nội bộ Giáo Hội Thống Nhất Ấn Chương "Tập quyền, kỳ thị" thiếu thiện cảm với các Giáo Phái Phật Giáo khác. Và, ó thể có khó khăn với các tôn giáo khác, qua những nhận xét sâu xa. (7)

Tuy nhiên, Cộng Sản là kẻ thù chung của nhân loại. Nhân loại xóa bỏ những mặc cảm riêng tư, và tích cực phục vụ chung cho chính nghĩa. Chính nghĩa quyết thắng. Chủ nghĩa Cộng Sản không sao tránh khỏi luật đào thải, và chắc chắn phải nhường chỗ cho thể chế tự do, dân  chủ của toàn dân Việt Nam. 

KẾT LUẬN

Giáo Pháp của đức Phật Thích Ca Mưu Ni thấm nhuần vào lòng dân Việt Nam đã gần hai ngàn năm. Phật Giáo đã hòa đồng cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc. Phật Giáo đã sản sinh những nhân vật đức hài hòa trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước. Nhưng, đôi khi, Phật Giáo cũng bị những nhân vật cậy tài, ỷ thế, kỳ thị, thiếu sáng suốt, thiếu hỷ xả, gây tan nát cho đạo giáo và Quốc Gia không ít.

Phật Giáo tôn trọng tự do nhân chủ tuyệt đối, không chủ trương "tập quyền" cho một cá nhân hay một nhóm người. Vì, hễ có tập quyền là có độc tài, có bè phái, có những thủ đoạn để củng cố quyền lực.  Gần một thế kỷ nay, nhân loại bị đau khổ đến cùng cực bởi nạn "tập quyền" của Cộng Sản. Ba mươi năm nay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chủ trương "tập quyền", chưa thấy đem lại tia hy vọng hòa hợp và an lạc cho đại chúng. Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ triền miên trong sự chia rẽ, đã có hai, ba tổ chức thống nhất. Phật Giáo Việt Nam tại Úc, "tập quyền" thống nhất trong tay một nhân vật tham độc, thiếu tài đức, gây bè phái, kỳ thị Trung, Bắc, hãm hại huynh đệ đồng đạo, mặc cho gần trăm ngàn Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Úc không nơi nương tựa, mặc cho danh dự Phật Giáo Việt Nam bị tổn thương nặng nề ! 

Ôi, Phật Giáo Việt Nam ! Ôi, Phật Giáo Việt Nam !
Ai gây chi lắm niềm đau khổ, 
Vũ trụ nài van đến nghẹn lời ! 
(Lửa thiêng đạo mầu)


Kính bạch Quý Ngài,
Kính thưa Quý vị,

Bạch thư này viết ra trong hoàn cảnh bất đắc dĩ. Bạch thư này được viết ra bằng những giòng lệ nóng thương đời, thương đạo. Bạch thư này ra đời, có người ưa có người không ưa, vì sự thật mất lòng. Nhưng, giả dối phải nhường chỗ cho sự thật, để cho Quốc Gia, cho Đạo Pháp được trường tồn, cho nhân dân Việt Nam được thức tỉnh, và cho nhân loại được hưởng niềm an lạc của chính pháp.

Cầu nguyện Tam Bảo từ bi gia hộ, chuyển hóa đất nước Việt Nam, đạo giáo Việt Nam, nhân dân Việt Nam sớm thoát khỏi ách Cộng Sản, thành một nước tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc và thịnh vượng. Chuyển hóa tâm niệm của các cấp Phật Giáo trong và ngoài nước, biết rõ mình, như lời Phật dạy, tiến tu và đạt tới đích giác ngộ, giải thoát. Cầu mong Quý Ngài và Quý vị luôn luôn được niềm an vui như ý, trong ánh đạo từ bi và trí tuệ.

Thành thực cảm ơn Quý Ngài và Quý vị. 
Trân trọng,

Hòa Thượng Thích Tâm Châu 

Trích Bạch Thư Về Vấn Đề Chia Rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự, (1994) Tổ Đình Từ Quang (2176 Ontario East, Montréal, Québec  H2K, Canada. Tel: 514. 525 8122 .

@ Trúc-Lâm Yên-Tử

Trúc Lâm Yên Tử Trên Mạng Xã Hội:

facebook

pay per click advertising

Thông Báo: Trang nhà Trúc Lâm Yên Tử nhận đăng quảng cáo cho các cơ sở thương mại. Rất mong đón nhận sự ủng hộ của quý độc giả ở khắp mọi nơi. Đa tạ. Xin vui lòng liên lạc qua email truclamyentu@truclamyentu.info để biết thêm chi tiết. We add your banner or small texted-based on our website, please contact us at truclamyentu@truclamyentu.info. Thanks

Đang xem báo Trúc-Lâm Yên-Tử

free counters

un compteur pour votre site